Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Rồng ngự trên các đồ vật cổ

Hàng trăm hiện vật cổ có hình tượng rồng ngự trên bùa đeo, cột đá, chân đèn, cánh cửa, đỉnh, lư, võng... được Bảo tàng Lịch sử quốc gia trưng bày nhân dịp xuân Nhâm Thìn 2012.

Rồng trang trí trên cột đá triều Lý thành Thăng Long thế kỷ 11-13.
Rồng ngự trên cánh cửa gỗ triều Trần (thế kỷ 13-14), lấy từ chùa Phổ Minh, Tức Mặc (Nam Định).

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

Tết cổ truyền của dân tộc Việt nam

TẾT CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Một năm có bốn mùa và bao giờ mùa xuân cũng là mùa đẹp nhất, mùa mở đầu và Tết là ngày bắt đầu cho một năm mới. Tết là dịp để người ta bày tỏ tình thương yêu nhân loại, sum họp gia đình, thờ phượng tổ tiên và thăm viếng thân nhân. Tết cũng là dịp nghỉ ngơi, chơi đùa, ngẫm lại một năm đã qua, để chuẩn bị cho một năm mới bao điều tốt lành. Tuy nhiên không phải ai trong chúng ta cũng đều biết nguồn gốc của ngày Tết cổ truyền Việt Nam và những mỹ tục với các giá trị truyền thống tốt đẹp. Một mùa xuân đang về trên mọi miền đất nước, nhân dịp này, chúng ta hãy ôn lại một vài nét về lịch sử cũng như những nét mỹ tục cổ truyền của ngày Tết.




Tết cổ truyền Việt Nam có từ đâu?
Đến nay, nhiều người trong chúng ta vẫn chưa biết dân tộc Việt Nam bắt đầu ăn tết từ khi nào và tại sao lại có ngày Tết. Sách “Việt sử đại toàn” đã ghi lại việc này, theo giới nghiên cứu thì việc ghi chép này cũng chưa mấy cụ thể nhưng qua phân tích ta có thể suy đoán một cách tương đối về thời gian hình thành mỹ tục ăn Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử và truyền thuyết cho thấy, Họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang từ năm Nhâm Tuất – năm 2879 trước công nguyên, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dư­ơng Vương sinh ra Lạc Long Quân, sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vư­ơng. Từ thời đó, người Việt ta đã ăn Tết. Bắt đầu có bánh chư­ng, bánh dầy nhờ sáng kiến của Lang Liêu - con trai thứ 18 của vua Hùng Vư­ơng 6. Có thể nói, nư­ớc ta sớm hình thành một nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng của ngư­ời Việt. Nền văn hoá với những đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nư­ớc, cùng những sản vật từ lúa gạo. Gạo - thứ thực phẩm chính nuôi sống con người, trong đó gạo nếp là thứ ngon nhất, thơm, dẻo, nhiều chất. Chính vì lẽ đó, gạo nếp đ­ược chọn để làm thành các thứ bánh dành cho việc cúng tế tổ tiên trong ngày đầu năm.
Thực ra, cho đến nay, nói chính xác dân ta bắt đầu ăn Tết từ khi nào không ai nắm rõ. Lịch sử Trung Hoa viết, từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang - quan nư­ớc Tàu sang n­ước ta, truyền cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ truyền. Song thực tế đã chứng minh rằng: Trước khi người Trung Hoa sang đô hộ, dân tộc Việt đã có văn hóa nền nếp, đặc sắc và có việc tổ chức ăn Tết Nguyên Đán.
Thứ nhất: Vua Hùng không giống các vị hoàng đế Trung Hoa - nhất nhất theo Khổng giáo. Việc truyền ngôi cho con trai thứ 18 đã chứng tỏ sự khác biệt của dân tộc Việt với dân tộc Hoa. Thông thường các hoàng đế truyền lại ngôi cho vị hoàng tử cả như­ng Hùng V­ương thứ 6 của n­ước Văn Lang không theo nguyên tắc đó, ông chọn ngư­ời kế vị trị vì đất nư­ớc thay mình là ng­ười hiền đức, bất luận đó là cả hay thứ.

Thứ hai: Lang Liêu là một hoàng tử, đư­ơng nhiên phải là ngư­ời đư­ợc tiếp thu, thấm nhuần văn hoá dân tộc và tư­ duy theo cách của đồng bào mình. Theo đó, thấy rằng, dân tộc Việt ta có cách nghĩ thực tế hơn so với ngư­ời Hoa. Bánh chư­ng vuông tư­ợng trư­ng cho đất. Đất ở đây không có nghĩa là trái đất, mà là những mảnh ruộng vuông vắn - nơi người dân trồng cây lúa nư­ớc nuôi sống chính mình. Bánh giày tượng trưng cho trời tròn không có nghĩa là bầu trời hình tròn, mà là hệ vòng quay 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông liên tiếp. Ngư­ời Hoa th­ường giải thích vạn vật qua những hệ số, bói toán trừu t­ượng, đôi khi như­ ma thuật rất xa xôi, khó hình dung.

Đi chợ quê ngày 30 Tết tìm nét xuân xưa

(Dân trí) - Trời vẫn tờ mờ sáng nhưng ngày 30 Tết (năm nay là ngày 29 tháng Chạp), chợ Đồng Vàng (Phú Xuyên, Hà Nội) đã náo nhiệt tiếng kẻ bán - người mua. Hàng hóa ở chợ chủ yếu là nông sản, đào, quất, bưởi, chuối… do bàn tay người nông dân tự làm ra.
Chợ phiên phiên Đồng Vàng họp cách nhật, chỉ diễn ra vào buổi sáng nhưng ngày cuối năm này, chợ diễn ra từ tờ mờ sáng đến cuối chiều.
 
 Nhiều người đi chợ mua mía để cạnh ban thờ làm gậy cho người đã khuất về nhà ăn Tết
 

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

Ý nghĩa và nguồn gốc Tết cổ truyền (nguyên đán)

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NGÀY TẾT CỔ TRUYỀN DÂN TỘC

Tết của Việt Nam (hay còn gọi đầy đủ là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, năm mới hay chỉ đơn giản Tết) là dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam được hình thành từ nền văn minh lúa nước và đời sống nông nghiệp của dân tộc Việt. Chữ "Tết" do chữ "Tiết" (節) mà thành.[1] Tết cổ truyền cũng được gọi là "Tết Nguyên đán". Hai chữ "Nguyên đán" (元旦) có gốc chữ Hán; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán". Tết cổ truyền của Việt Nam được người Trung Quốc hiện nay gọi là Xuân tiết (春節) hoặc Nông lịch tân niên (農曆新年), còn tết của Trung Quốc ngày nay lại là Tết dương lịch tức ngày 1 tháng 1 hằng năm.[2]. Nhưng với cộng đồng người Hoa ở Đài Loan, Hồng Kông hay nhiều nước khác, Tết Nguyên Đán vẫn là tết cổ truyền của họ. Điều này cũng phản ánh Tết không phải của người Hoa Bắc và vùng Hoa Nam (Đài Loan, Hồng Kông, Quảng Châu...) vốn là đất Việt xưa.

Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2011

THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG ĐÃ HÀNH XỬ HỢP LÝ KHI KÝ CÔNG HÀM 1958

Luật gia Trần Đình Thu

Thời gian qua, có nhiều giải thích khác nhau chung quanh Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng gửi Quốc vụ viện Trung Quốc liên quan đến lãnh hải Trung Quốc vào năm 1958, khiến nhiều người hiểu không đúng bản chất vấn đề. Qua nghiên cứu tài liệu, bước đầu chúng tôi xin có một số ý kiến giải thích sau đây:

1. Tuyên bố 1958 của Trung Quốc vi phạm Luật quốc tế:

Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Ban thường trực quốc hội Trung Quốc thông qua tuyên bố về lãnh hải Trung Quốc. Tuyên bố có 4 vấn đề nhưng có 1 vấn đề tối quan trọng là định nghĩa về “đường cơ sở” (còn gọi là đường căn bản) như sau:

“Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi”.

Từ định nghĩa về đường cơ sở này, phía nước bạn Trung Quốc đã xác định tiếp ranh giới nội thủy và lãnh hải của họ một cách sai lầm trong bản tuyên bố như sau:

“Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.”.

Tuyên bố của nước bạn sai lầm và vi phạm Luật quốc tế ở chỗ nào?

Trước hết xin nói qua về đường cơ sở. Khi ta đọc định nghĩa trong văn bản, do văn bản pháp luật đòi hỏi sự diễn đạt súc tích cô đọng nên thành ra khó hiểu với một số người, nên xin “diễn nôm” ra cho dễ hiểu. Theo đó, thì đường cơ sở chính là một cái “ranh đất liền”. Tương tự như khi làm nhà thì ta xác định ranh đất của ta tới đâu để xây nhà khỏi phạm lộ giới vậy.

Lẽ ra “ranh đất liền” của một nước là phải lấy đường bờ biển của nước ấy. Nhưng đường này trên thực tế đôi lúc quá quanh co khúc khuỷu, dẫn tới việc xác định bề rộng lãnh hải phức tạp, nên các nhà lập pháp quốc tế phải đưa ra một khái niệm gọn gàng, dễ xác định hơn, là đường cơ sở. Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển, thì đường cơ sở là một đường gần gũi với đường bờ biển. Người ta xác định đường này để từ đây đo ra ngoài khơi nhằm xác định lãnh hải của nước mình.

Nhưng với Trung Quốc, “ranh đất liền” mà họ xác định vào năm 1958 ấy hoàn toàn không gần gũi với đường bờ biển của họ chút nào, mà họ kéo tuốt nó ra ngoài khơi, quàng vào các đảo xa xôi, trong đó có những đảo họ mới “giành lấy” chủ quyền ngay trong bản tuyên bố này. Như vậy vấn đề căn bản đầu tiên là xác định “ranh đất liền”, họ đã quá sai. Xác định tiền đề sai, dẫn theo hàng loạt cái sai khác. Rõ ràng đường cơ sở của nước bạn Trung Quốc là một khái niệm không phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 mà chính họ đã phê chuẩn. Có thể nói đây là một đường cơ sở “không giống ai”. Lẽ ra sau khi tham gia Công ước 1982, họ phải điều chỉnh lại đường này mới đúng nhưng họ đã không làm thế.

2. Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công hàm 1958 là đúng vai trò:


Một số người thắc mắc vì sao Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại có thể tự mình ký công hàm 1958 mà không được sự ủy nhiệm của chủ tịch nước đương nhiệm khi ấy là Chủ tịch Hồ Chí Minh hoặc được sự ủy nhiệm của Quốc hội. Từ đó họ cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký sai vai trò.

Chúng ta cần biết, thủ tướng, trong vai trò người đứng đầu chính phủ, hoàn toàn đủ tư cách ký công hàm nêu rõ quan điểm của chính phủ mình đối với một vấn đề quốc tế mà không cần bất kỳ sự ủy nhiệm nào (một số chức danh có thể ký những điều ước quốc tế liên quan mà không cần ủy nhiệm thư như nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng ngoại giao, người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, trưởng phái đoàn tại hội nghị quốc tế, tổ chức quốc tế … ).

3. Công hàm 1958 không có giá trị “thỏa thuận lãnh thổ biên giới”.

 Quan điểm cho rằng công hàm 1958 mặc nhiên thỏa thuận về một số vùng đảo và biển thuộc Trung Quốc như tuyên bố 1958 của nước bạn Trung Quốc là sai lầm. Theo Luật quốc tế, giá trị của công hàm chỉ là nêu quan điểm của chính phủ một nước về một vấn đề quốc tế, nói nôm na giống như là một tiếng vỗ tay đồng thuần hay một lời la ó phản đối. Chỉ khi nào Việt Nam ký hiệp định với Trung Quốc trong đó nêu rõ những vùng biển và đảo nào đó thuộc Trung Quốc thì khi đó mới có giá trị thực thi.

Chúng tôi lấy ví dụ, với Tuyên bố 1958 của Trung Quốc, Thủ tướng Canada hoặc Thủ tướng Ý chẳng hạn, nếu muốn thì họ cũng có thể ra công hàm ủng hộ Trung Quốc như công hàm 1958 của chúng ta, mặc đầu họ không có chung biên giới với Trung Quốc. Có nghĩa là, công hàm không có giá trị thỏa thuận.

4. Sự khéo léo của Công hàm 1958:


Vào thời kỳ 1958, bề rộng lãnh hải của các nước tiếp giáp biển chưa thống nhất. Trước đó đa phần đều lấy bề rộng 3 hải lý tính từ đất liền. Cho đến năm 1958, một số nước đã tăng bề rộng lãnh hải lên 12 hải lý. Và Trung Quốc cũng tăng lên như thế trong Tuyên bố 1958. Điều này chẳng có gì đáng nói nếu như họ xác định đường cơ sở đúng như thông lệ quốc tế khi đó.

Vào năm 1958, trong bối cảnh Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đang quan hệ với Trung Quốc, việc ra công hàm ủng hộ Tuyên bố 1958 của nước bạn Trung Quốc là không thể không làm. Khổ nỗi tuyên bố của nước bạn quá ngạo ngược về cái “ranh đất không giống ai” đó. Như vậy thì công hàm phải viết thế nào đây?

Nghiên cứu Tuyên bố 1958 của Trung Quốc chúng tôi thấy, tuyên bố đề cập đến 4 vấn đề như sau:

    Bề rộng lãnh hải là 12 hải lý tính từ đường cơ sở (đường căn bản).
    Kéo đường căn bản quàng lên các đảo thuộc và chưa thuộc chủ quyền của Trung Quốc tít ngoài khơi.
    Xác lập chủ quyền lãnh hải và không phận của Trung Quốc nêu trong Tuyên bố 1958.
    Nêu vấn đề Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác.

Tuy nhiên, Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khéo léo công nhận chỉ 1 vấn đề là bề rộng lãnh hải 12 hải lý mà thôi. Công hàm viết: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển”.

Công nhận hải phận 12 hải lý là phù hợp thông lệ quốc tế khi đó và phù hợp Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 về sau. Nhưng cũng chỉ là vấn đề hải phận 12 hải lý. Công hàm không hề nhắc đến 3 vấn đề còn lại. Chúng ta lưu ý, vấn đề thuộc luật pháp cần được hiểu, cái gì được nói ra thì chỉ là cái đó. Nếu như công hàm 1958 viết rõ: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ủng hộ toàn bộ nội dung của Tuyên bố…” thì mới bao hàm cả 4 vấn đề.

Từ đó chúng tôi kết luận: Công hàm 1958 không thể là nguyên nhân dẫn đến các rắc rối về sau liên quan đến chủ quyền biển đảo giữa Việt Nam và nước bạn Trung Quốc. Việc nước bạn Trung Quốc có những tuyên bố thiếu phù hợp gần đây là do sự chủ động của họ.

 TP.HCM ngày 11/12/2011







     

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011

Di sản chèo Tàu đối mặt nguy cơ thất truyền

(Dân Việt) - Chèo Tàu Tân Hội (Đan Phượng, Hà Nội)- một trong 25 địa chỉ văn hoá dân gian tiêu biểu của toàn quốc đang đối mặt với nguy cơ thất truyền.

Thuở vàng son…

Các cụ trong làng kể lại rằng, chèo Tàu ở Tân Hội trước kia vốn được xem là một nghi lễ nhằm tưởng nhớ viên tướng tài ba thời hậu Trần là Văn Dĩ Thành - người đã có công đánh đuổi quân Minh xâm lược, quyết tử để bảo vệ quê hương và hiện được tôn là Thành hoàng làng của Tân Hội.

Câu lạc bộ Hát chèo Tàu Tân Hội.

Chèo Tàu còn có tên gọi khác là hát tàu tượng, sở dĩ vậy vì để biểu diễn, phải đóng những con voi và thuyền lớn bằng gỗ, người tham gia diễn xướng được phân vào các “vai” chúa tàu, cái tàu (người chỉ huy tàu), con tàu, quản tượng... đứng trên thuyền, trên voi để hát theo những làn điệu cổ.

Ngoài số lượng chúa tàu, cái tàu, con tàu và quản tượng, 4 thôn còn chọn lựa 50 cô gái xinh đẹp và 200 “hàng đô” (nam thanh niên) để cầm cờ, cầm lọng, đánh trống, khiêng kiệu.

Ông Đông Sinh Nhật - Phó Chủ nhiệm CLB Hát chèo Tàu Tân Hội cho biết: “Hầu hết những người tham gia phục vụ Lễ hội chèo Tàu phải là những nam thanh nữ tú. Con trai thì cường tráng khôi ngô, con gái thì phải có thanh, sắc và những tiêu chuẩn nhất định về phẩm chất...”.

Sau nhiều năm thất truyền, năm 1998, với sự quan tâm của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây (cũ), chèo Tàu chính thức được tái hiện lại nhờ tâm huyết của nhiều đào hát và CLB Hát chèo Tàu Tân Hội.

Việc truyền dạy những làn điệu của hát chèo Tàu chủ yếu bằng hình thức “truyền khẩu” qua trí nhớ của các nghệ nhân, các cụ cao tuổi trong làng. Để những ca từ mượt của chèo Tàu đã vượt qua thử thách của thời gian tiếp tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày tháng hào hùng nhất của dân tộc, trước hết phải kể đến công lao của 2 nghệ nhân đầy tâm huyết là bà Nguyễn Thị Thu và ông Đông Sinh Nhật - Chủ nhiệm CLB Hát chèo Tàu Tân Hội.

Nỗ lực cứu di sản

Khi nhắc đến thăng trầm lịch sử của chèo Tàu, ông Đông Sinh Nhật than thở: “Hồi trước, trong làng có cụ Tiến Thị Lục, cụ Mạch và cụ Nhung là những cây đa, cây đề nức tiếng về hát chèo Tàu hay, đồng thời thuộc nhiều làn điệu chèo Tàu cổ.

Các cụ biết chúng tôi có mong muốn phục dựng lại chèo Tàu thì vui lắm, sẵn sàng đem hết công sức để gây dựng lại nét văn hóa truyền thống quê hương. Thế nhưng sau khi được phục dựng lại một lần vào năm 1998, đến giờ ước mong được tổ chức một hội theo đúng nghi thức cũng đang gặp nhiều khó khăn”.

Hiện nay, CLB Hát chèo Tàu Tân Hội có 50 người tuổi từ 18 - 20, mỗi khi có hội hát, chương trình giao lưu là CLB lại họp mặt các thành viên đông đủ. Một điều đáng mừng là dạy hát chèo Tàu hiện được đưa vào chương trình học của các em học sinh xã Tân Hội.
 
Ông Đông trăn trở: “Hiện tại, để tổ chức một lễ hội chèo Tàu theo đúng nghĩa thì khó lắm. Vì trong lễ hội chèo Tàu độc đáonhất là thuyền và voi, nhưng giờ đây đôi voi và chiếc thuyền cũng không còn nguyên vẹn, dần xuống cấp. Thế nên ý định thực hiện một nghi thức hội hát chèo Tàu vẫn là ước ao của chúng tôi.

GS - TSKH Tô Ngọc Thanh - Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam khẳng định: “Chèo Tàu, giờ đây không chỉ là của riêng Tân Hội. Việc gìn giữ và bảo tồn chèo Tàu không thể là công việc của một người và có thể tiến trong ngày một ngày hai, nó phải là sự chung tay góp sức của cả cộng đồng.
Hãy “gửi” chèo Tàu vào trong nhân dân, để nhân dân giữ cho, khi nào cần thi đem ra trưng bày mới tốt. Vì chèo Tàu gắn liền với đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân, phản ánh ước nguyện sống của nhân dân thì nên để họ được hưởng thụ”.